Ngày 17/5/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban
hành Thông tư số 01/2024/TT-BVHTTDL Quy định về phòng, chống doping trong hoạt
động thể thao.
Thông tư này quy định về phòng, chống doping trong
hoạt động thể thao, bao gồm: Giáo dục, truyền thông; kiểm tra doping; quản lý
kết quả; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong phòng, chống doping. Công
tác phòng, chống doping trong hoạt động thể thao được thực hiện theo quy định
của Bộ luật Phòng, chống doping thế giới, các tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức
Phòng, chống doping thế giới và quy định phòng, chống doping của Việt Nam.
Theo đó, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về phòng,
chống doping trong hoạt động thể thao gồm:
- Trách nhiệm của Cục Thể dục thể thao: Trình Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành theo thẩm quyền văn bản, chiến
lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao; chỉ
đạo và tổ chức thực hiện văn bản, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng,
chống doping trong hoạt động thể thao; tổ chức thông tin, giáo dục, truyền
thông về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao; tổ chức bồi dưỡng và
tăng cường nhân lực tham gia phòng, chống doping trong hoạt động thể thao; mở
rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và
trao đổi thông tin liên quan đến phòng, chống doping trong hoạt động thể thao.
- Trách nhiệm của Tổ chức phòng, chống doping tại Việt
Nam: Tuân thủ vai trò và trách nhiệm được quy định tại Bộ luật Phòng, chống
doping thế giới và các tiêu chuẩn quốc tế; chịu trách nhiệm chủ trì, thực hiện
công tác phòng, chống doping tại Việt Nam; xây dựng đội ngũ cộng tác viên, tình
nguyện viên về lấy mẫu kiểm tra doping, phát triển chương trình giáo dục,
truyền thông, phòng, chống doping; phối hợp với các cơ quan báo chí thuộc Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện công tác giáo dục, truyền thông phòng,
chống doping; hướng dẫn các vận động viên cung cấp thông tin chính xác và cập
nhật về nơi ở và tập luyện, hồ sơ miễn trừ do điều trị và các biểu mẫu khác
theo đúng Bộ luật Phòng, chống doping thế giới và các tiêu quốc tế có liên
quan; quản lý và bảo vệ dữ liệu về phòng, chống doping theo quy định của Bộ
luật Phòng, chống doping thế giới, tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư
và thông tin cá nhân và quy định của pháp luật Việt Nam; phối hợp với các cơ quan
phòng, chống doping và các tổ chức quốc tế tăng cường công tác phòng, chống
doping trong hoạt động thể thao; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận
xử lý vi phạm về phòng, chống doping trong hoạt động thể thao; thực hiện các
công việc khác được quy định tại Bộ luật Phòng, chống doping thế giới.
- Trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở
Văn hóa và Thể thao: Xây dựng kế hoạch và phối hợp với Tổ chức phòng, chống
doping tại Việt Nam tổ chức thực hiện, giáo dục, truyền thông về phòng, chống
doping; thường xuyên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện công tác phòng,
chống doping đối với vận động viên, huấn luyện viên, nhân viên y tế thuộc phạm
vi quản lý; xử lý theo thẩm quyền đối với vận động viên, huấn luyện viên, cá
nhân có liên quan vi phạm quy định về phòng, chống doping; hàng năm báo cáo Cục
Thể dục thể thao về công tác phòng, chống doping tại địa phương.
- Trách nhiệm của Ủy ban Olympic Việt Nam, Hiệp hội
Paralympic Việt Nam và các Hội thể thao quốc gia: Xây dựng quy tắc hành nghề và
tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài
thể thao gắn với việc phòng, chống doping; phối hợp với Tổ chức phòng chống
doping tại Việt Nam tổ chức tập huấn tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức về công
tác phòng, chống doping cho cán bộ, nhân viên y tế, huấn luyện viên, vận động
viên tham gia luyện tập và thi đấu thể thao; có hình thức xử lý bổ sung theo
quy định tại Điều lệ của tổ chức nếu xét thấy cần thiết đối với vận động viên,
huấn luyện viên và cán bộ thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm pháp luật về
phòng, chống doping ngoài quy định của Bộ luật Phòng, chống doping thế giới; tôn
trọng quyền tự chủ, không can thiệp vào quyết định và hoạt động của Tổ chức
phòng, chống doping tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật phòng chống Doping
thế giới; hàng năm, báo cáo kết quả công tác phòng, chống doping về Cục Thể dục
thể thao; thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Phòng,
chống doping thế giới; các Hội thể thao quốc gia có trách nhiệm phối hợp với Tổ
chức phòng, chống doping tại Việt Nam điều tra, cung cấp thông tin liên quan
tới hành vi vi phạm Bộ luật Phòng, chống doping thế giới.
- Trách nhiệm của các cơ sở đào tạo vận động viên:
Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin về vận động viên cho cơ quan chuyên
môn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra doping theo quy định; phối hợp với Tổ chức
phòng chống doping tại Việt Nam thực hiện các chư ng trình giáo dục, truyền
thông về phòng, chống doping đối với vận động viên, huấn luyện viên, nhân viên
y tế tại cở sở đào tạo.
- Trách nhiệm của nhân viên y tế, huấn luyện viên: Tuân
thủ các quy định của Bộ luật Phòng, chống doping thế giới và các quy định pháp
luật về phòng, chống doping của Việt Nam; thường xuyên học tập, nâng cao kiến
thức, cập nhật thông tin về các chất bị cấm và phư ng pháp bị cấm trong tập
luyện, thi đấu thể thao và quy định về Miễn trừ do điều trị; tuyên truyền, giáo
dục, ngăn chặn các hành vi vi phạm Bộ luật Phòng, chống doping thế giới; hướng
dẫn vận động viên hoàn thiện hồ sơ, miễn trừ do điều trị, hồ sơ nơi ở và tập
luyện; phối hợp với Tổ chức phòng, chống doping tại Việt Nam điều tra về các
trường hợp vi phạm Bộ luật Phòng, chống doping thế giới; thực hiện đúng vai trò
và trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Phòng, chống doping thế giới.
- Trách nhiệm của vận động viên: Tuân thủ các quy định
của Bộ luật Phòng, chống doping thế giới và các quy định pháp luật về phòng,
chống doping của Việt Nam; thường xuyên học tập, nâng cao kiến thức, cập nhật
thông tin về các chất bị cấm và phư ng pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu
thể thao và quy định về Miễn trừ do điều trị; chấp hành nghiêm kết luận xử lý
vi phạm; phối hợp với Tổ chức phòng, chống doping tại Việt Nam điều tra về vi
phạm Bộ luật Phòng, chống doping thế giới.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09 tháng
7 năm 2024; các văn bản quy phạm pháp luật sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ
ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành: Thông tư số 17/2015/TT-BVHTTDL ngày 30
tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về
phòng, chống doping trong hoạt động thể thao. Thông tư số 01/2023/TT-BVHTTDL
sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2015/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng
12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về phòng,
chống doping trong hoạt động thể thao.
Đính kèm file Thông tư số 01/2024/TT-BVHTTDL ngày 17/5/2024
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
N.Hoàng